BẠN BIẾT GÌ VỀ QUY ƯỚC VIẾT TÊN LATIN MỘT LOÀI SINH VẬT ?

Phân loại học là môn một lĩnh vực khoa học chuyên nghiên cứu để xác định phân loại các loài sinh vật. Mục đích của phân loại học hiện đại là xây dựng một hệ thống đánh giá phản ánh được quá trình tiến hóa của một nhóm loài từ tổ tiên xa xưa của chúng. Bằng việc xác định những mối quan hệ giữa các loài, các nhà phân loại học giúp các nhà sinh học bảo tồn xác định các loài hoặc các nhóm loài có những đặc điểm tiến hóa riêng hay đặc biệt có ý nghĩa cho những nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học.

 

Các nhà sinh học trên khắp thế giới thống nhất sử dụng một bộ tên chuẩn thường gọi là tên khoa học hay tên Latinh khi thảo luận về các loài. Hệ thống đặt tên loài thường dùng là danh pháp tên kép được xây dựng từ thế kỷ thứ XVI bởi nhà sinh học người Thụy Điển Carolus Linnaeus. Việc sử dụng tên khoa học tránh được việc nhầm lẫn hay xảy ra khi người ta dùng tên thường gọi theo địa phương trong cuộc sống hàng ngày. 

Tên khoa học được viết theo quy định về danh pháp như sau:

Chữ đầu tiên của tên chi phải được viết bằng chữ hoa và tên của tính ngữ loài thì bao giờ cũng chỉ viết bằng chữ thường. Tên khoa học bao giờ cũng được viết bằng chữ nghiêng hoặc được gạch chân. Đôi khi tên khoa học được mang tên của người đặt tên như trong trường hợp Homo sapien Linnaeus. tên này chỉ ra rằng Linnaeus là người đâu tiên đề nghị đặt tên khoa học cho loài người. Nếu như trong trường hợp chưa nhất trí, còn tranh cãi về một số loài trong chi, hoặc việc xác định các loài trong một chi chưa được chắc chắn lắm, hoặc muốn ám chỉ một tập hợp nhiều loài trong chi nào đó, người ta viết tên chi rồi viết kèm chữ viết tắt spp. (ví dụ: Garrulax spp.). Trong trường hợp muốn biểu thị một loài chưa được xác định, người ta dùng chữ viết tắc sp.. thì người ta dùng ký hiệu viết tắt spp. hay sp... Cần lưu ý là chữ spp. và sp. luôn được in đứng.

 

Thái Ngọc Chiến (Sưu tầm)

 

Các cấp đánh giá mức nguy cơ sinh vật

 

  • Cực kỳ nguy cấp (Critically Endangered, viết tắt CE) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật được quy định trong Sách đỏ IUCN. Một loài hoặc nòi được coi là Cực kỳ nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần.
  • Nguy cấp (Endangered, viết tắt EN) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật được quy định trong Sách đỏ IUCN. Một loài hoặc nòi bị coi là Nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức Cực kỳ nguy cấp.
  •  Sắp nguy cấp (Vulnerable, viết tắt VU) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật được quy định trong Sách đỏ IUCN. Một loài hoặc nòi bị đánh giá là Sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc CR  Nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa.
  •  Sắp bị đe dọa: Near Threatened, NT
  • Ít nguy cấp (Lower Risk, LR)
  • Hiếm: Rare, R
  • Bị đe dọa: Threatened, T
  • Thiếu dữ liệu: Insufficiently known, K (có lẽ tương ứng với cấp DD, trong Sách đỏ IUCN).