MÔ HÌNH LIÊN KẾT TỔ, ĐỘI TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN

“LIÊN KẾT KHÔNG BIÊN GIỚI” Ở THỪA THIÊN HUẾ

 KS. Trần Văn Hào - Phòng KT&BVNL TS

Giá dầu, giá lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác cho chuyến biển đang đồng loạt tăng cao. Sản lượng đánh bắt ngày càng giảm sút. Thêm vào đó là những khó khăn trong công tác tìm kiếm bạn tàu (thuyền viên) là những khó khăn chung của ngư dân cả nước hiện nay. Trong khi ngư dân nhiều địa phương đang “kêu trời” vì chi phí chuyến biển ngày càng tăng cao thì ngư dân vùng Thuận An (Phú Vang, Thừa Thiên Huế) lại có những cách làm hay đáng học tập. Không nằm ngoài vòng xoáy của cơn “bão giá”, ngư dân vùng Thuận An cũng đang phải gánh chịu khó khăn chồng chất. Để chống chọi với thiên tai, sóng gió ngoài biển, ngư dân ít nhiều cũng đã có kinh nghiệm từ cha ông. Nhưng để đối phó với lốc xoáy của cơn “bão giá” thì ngư dân chưa có tý kinh nghiệm nào. Bây giờ, họ mới từng ngày, từng giờ đi tìm kiếm những cách làm hay, đúc rút kinh nghiệm và đưa vào thực tiễn sản xuất. Và chính từ trong cái khó mới ló cái khôn, những cách làm hay, những ý tưởng mới ra đời từ đây.

Liên kết “không biên giới”!

 

Nói tới liên kết thành tổ đội tàu khai thác thủy sản nhằm giảm chi phí chuyến biển, tăng thời gian bám biển và hiệu quả khai thác thì không phải là một khái niệm xa lạ đối với những người làm thủy sản và ngư dân khai thác. Trong thời gian gần đây, đã có rất nhiều tổ đội tàu đã được thành lập ở các tỉnh, thành ven biển. Điển hình như các tỉnh Bến Tre, Bình Thuận, Kiên Giang, Nghệ An, Quảng Ngãi, Thanh Hóa…. đều có đội tàu hay tổ đoàn kết khai thác trên biển. Tuy nhiên, hầu hết mới chỉ dừng lại ở mức độ là “tổ đoàn kết”. Có nghĩa là giúp đỡ nhau khi có khó khăn, hoạn nạn trên biển là chính hoặc có hơn cũng mới chỉ dám liên kết với anh em, bà con, họ hàng lối xóm. Một số mô hình tổ khai thác được xây dựng bài bản, hoạt động khá có hiệu quả hơn khi có được sự chia sẻ thông tin về ngư trường, thu mua sản phẩm, tiếp thêm nhiên liệu… Nhưng ngư dân ở Thuận An đã có những sự phá cách mang tính đột phá trong việc liên kết thành tổ đội tàu. Đó là hình thành những “liên kết không biên giới”

Liên kết với chủ nậu vựa ở nhiều địa phương

Khi khai thác xa bờ, các tàu thay phiên nhau chở cá về bờ hoặc có tàu thu mua đi kèm chuyên chở. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng đánh bắt ở vùng biển tỉnh nhà mà “lúc lên Bắc, lúc xuống Nam” theo mùa vụ. Do đó, nếu khi nào cũng chạy tàu về địa phương mình để bán cá thì rất mất thời gian và tốn nhiều nhiên liệu. Đó là chưa kể đến lúc ngược gió, ngược nước còn phải chi phí nhiều hơn. Chính vì lý do đó, ý tưởng “đánh đâu bán đó” được hình thành. Nhưng ngay khi “thực hiện thí điểm” thì đã gặp những khó khăn. Đó là vào cảng cá của địa phương khác thì thường bị các chủ nậu vựa ở đó ép giá, cân sai, bớt xén… Sau khi tới bán một vài lần, tàu thu mua về “báo cáo” tình hình, nhóm khai thác nghĩ tới việc cần có một “tay trong” tại mỗi cảng cá mà mình muốn vào bán. Cái “tay trong” này phải là một chủ nậu vựa có tầm cỡ ở địa phương để đủ sức thu mua và không bị các chủ nậu khác ép giá nếu có cá nhiều. Từ đó, các thành viên trong nhóm bắt đầu tìm kiếm những mối liên hệ thân quen, nhờ bạn tàu ở các địa phương giới thiệu, liên lạc và làm “hợp đồng miệng” với các “tay trong” này. Để lựa chọn được một tay trong đáng tin cậy, các mối liên lạc được thông báo, thảo luận và mang ra “lấy ý kiến cộng đồng” và phổ biến trên máy bộ đàm. Từ đó, ngoài việc chia sẻ thông tin về ngư trường, những ý tưởng mới, những mối nậu quen, đáng tin cậy cũng được loan tin trên cái máy ICOM này. Nhờ có những “chân rết ruột” ở các địa phương như thế mà chiến lược “đánh đâu bán đó” thành công. Khi khảo sát ở trên tàu cá mang số hiệu TTH-97679-TS đang khai thác trên biển, thuyền trưởng Dũng chia sẻ với tôi “ở ngoài 109 này (lúc đó đang ở 16028’N, 109010E) mà chạy về Thuận An phải mất khoảng 20 tiếng, tui về Đà Nẵng hết có 12 đến 13 tiếng” Như vậy, cũng đã tiết kiệm được gần một nửa tiền nhiên liệu cũng như thời gian cho việc mang sản phẩm về bờ mà giá bán thì cũng như nhau, thậm chí ở Đà Nẵng dễ bán hơn ở Thuận An. Từ đó, nhóm khai thác bắt đầu thực hiện bắt liên lạc và có được những “tay trong” đáng tin cậy và lâu dài với các địa phương từ Bình Định ra tới Quảng Bình. Tuy nhiên, để những “chân rết” này hoạt động trung thành với mình thì bên mình phải đặt chữ tín lên hàng đầu. Khi cá ít, giá cá có nhích lên thì mình cũng không được bán cho nậu khác, ông Dũng nói.

Tận dụng tối đa thời gian trên biển

Còn nằm trên biển là còn phải đối mặt với sóng gió, nguy hiểm rình rập. Do đó, mọi khoảng thời gian trên biển đều được những ngư dân ở đây tận dụng triệt để. Ngoài hoạt động của nghề chính, ngư dân còn tranh thủ thời gian nhàn rỗi khác để kiếm thêm thu nhập. Những bạn tàu đi trên nghề lưới vây kết hợp ánh sáng của Thuận An còn có thể câu mực, câu cá hố nhằm tăng thêm thu nhập cá nhân. Bình quân mỗi thuyền viên cũng kiếm được từ 150.000 đến 300.000 đồng từ việc “làm thêm” này. Đối với những chiếc thu mua, ngoài nhiệm vụ thu mua sản phẩm trên biển vào ban ngày. Thời gian ban đêm thường là rảnh rỗi đối với các tàu thu mua, các tàu này có nhiệm vụ chong đèn dụ cá. Khi máy dò cá trên tàu báo có cá, các tàu này thông tin cho các tàu lưới vây tới đánh. Tỷ lệ ăn chia thường là người chong đèn hai phần, tàu tới vây một phần. Sau khi đánh xong, sản phẩm được bán luôn cho các tàu thu mua này. Như vậy là lợi cả đôi đường. Mặc dù công việc chong đèn thuê này cũng được ngư dân các địa phương khác ứng dụng từ lâu. Nhưng họ chỉ mới làm được nhiệm vụ chong đèn, chưa đảm nhận được công tác thu mua sản phẩm cho các tàu trong nhóm. Ngư dân ở Thuận An đã làm “một công đôi việc”. Ngoài ra, một số tàu làm nghề mành của Quảng Bình, tàu lưới rê của Quảng Trị cũng đi chong đèn thuê trong thời gian không chính vụ…

Những công tác tưởng chừng như chỉ là những ý tưởng đơn giản đó nhưng cũng đã và đang mang lại những lợi ích thiết thực cho người dân ven biển. Góp phần nâng cao đời sống cho bà con ngư dân cũng như giúp họ có thêm động lực, niềm vui và yên tâm hơn trong những chuyến ra khơi.

Bản tin Phòng Khai thác và Bảo vệ NLTS nội địa


TS. Thái Ngọc Chiến gia nhập Thành viên Ban biên tập Tạp chí Khoa học  và Công nghệ Nông nghiệp của Mỹ (Journal of Agricultural Science and Technology, ISSN 1939-1250, USA) từ tháng 3/2011.

 

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp  một Tạp chí chuyên nghiệp của Mỹ được tài trợ bởi Hiệp hội các nhà doanh nghiệp Mỹ và xuất bản tại Hoa Kỳ. Đây là một Tạp chí Quốc tế, học thuật và bình luận (in ấn và trực tuyến) được xuất bản hai tháng một lần bởi David Publishing Company (Hoa Kỳ) được thành lập vào năm 2001. Tạp chí là cầu nối, tích hợp đa dạng trí tuệ, phương pháp, và nội dung về phát triển nông nghiệp. Nó khuyến khích trao đổi thông tin mạnh mẽ giữa các học giả và các thành viên trong lĩnh vực nông nghiệp. Tạp chí hoan nghênh những đóng góp, việc trao đổi các ý tưởng, lý luận và thực tiễn giữa các nhà giáo dục và các nhà nghiên cứu nông nghiệp trên toàn thế giới. 

Các chủ đề liên quan đến lĩnh vực xuất bản của Tạp chí bao gồm tất cả các khía cạnh sinh lý học cây trồng và vật nuôi; Các mô hình của hệ thống cây trồng và vật nuôi; Các cơ sở khoa học về nông học, chăn nuôi; Các giải pháp kỹ thuật, hệ thống hỗ trợ, sử dụng đất, tác động môi trường của ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, tác động của biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học nông thôn, thiết kế thí nghiệm và phân tích thống kê, ứng dụng các phương pháp mới phân tích và nghiên cứu (bao gồm cả các nghiên cứu phân tử). 

 

Phòng Khai thác và BVNL TS

 

Tìm thấy động vật sống ở độ sâu nhất thế giới

Con giun vừa tìm thấy dưới mỏ vàng ở Nam Phi là sinh vật cạn sống sâu nhất từng được phát hiện.

New York Times cho biết, theo báo cáo của nhóm khoa học tại trường đại học Princeton (Mỹ) và các đồng nghiệp từ Bỉ, Nam Phi, Hà Lan, họ vừa phát hiện con giun sống ở độ sâu hơn 3,5 km. Trước đây, nhiều người vẫn tin rằng, chỉ có vi khuẩn đơn bào mới sống được ở độ sâu như vậy.

Xem tiếp>

 

Hồ Ba Bể thành khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam

 

Nhân ngày môi trường thế giới 5/6, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ trao quyết định của UNESCO công nhận Ba Bể là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế).

Trước đó, Tổng thư ký Công ước Ramsar Anad Tiega đã ký công nhận hồ Ba Bể là vùng đất ngập nước quan trọng của thế giới. Sự kiện này đưa hồ Ba Bể (Bắc Kạn) trở thành khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam sau Xuân Thủy (Nam Định) và Bàu Sấu (Đồng Nai).

Xem tiếp>